CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH TẬT KHÚC XẠ

Có nhiều giải pháp để điều chỉnh tật khúc xạ, mỗi giải pháp có những ưu điểm cũng như hạn chế riêng. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ đề cập đến những giải pháp đang được ưa chuộng và áp dụng rộng rãi hiện nay

1. Mang kính:

1.1. Mang kính gọng:

Kính đeo mắt ra đời từ 1920, đầu tiên thiết kế của kính chỉ gồm hai tròng kính nối với nhau bằng một sợi dây đè lên đầu mũi. 1930 một  chuyên gia quang học ở Luân Đôn sáng chế ra 2 càng (ngày nay gọi là gọng kính), để mắt kính cố định một cách chắc chắn. Hiện nay thì mắt kính có thiết kế ngày càng cải tiến cả về chất lượng lẫn hình thức:

     – Ưu điểm: tiện dụng, dễ làm, dễ thay đổi

     – Nhược điểm:

          + Ảnh hưởng thẩm mỹ, nhất là đối với phái nữ

          + Bất tiện trong sinh hoạt,vận động, chơi thể thao…

          + Hạn chế thị trường chu biên

         + Không phù hợp với một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt  như  công an, lính cứu hỏa, phi công, người mẫu, thợ lặn…

1.2. Kính tiếp xúc (KTX) sử dụng ban ngày:

* Lịch sử phát triển: nhà khoa học kiêm họa sĩ người Ý –Leonardo De Vinci đã mô tả và phát họa ý tưởng đầu tiên về KTX vào năm 1508 . Nhưng mãi đến hơn 300 năm sau KTX mới ra đời và sử dụng trên mắt, nhưng chỉ ở giai đoạn sơ khai. Mãi đến 1936 KTX cứng bằng plastic ra đời, ngày càng được cải tiến về mặt hình thức như nhỏ hơn, mỏng hơn, phù hợp với cấu trúc của mắt và vẫn còn được sử dụng đến nay. Đến cuối thập niên 1950s, KTX mềm, ái nước, bằng plastic đầu tiên ra đời, có nhiều ưu điểm hơn KTX cứng

     – Ưu điểm của kính tiếp xúc:

    – Hạn chế được những nhược điểm của việc mang kính gọng như: có tính thẩm mỹ, giúp thuận tiện và năng động hơn trong sinh hoạt, công việc, chơi thể thao…

          + Tăng thị trường chu biên ….

    – Hạn chế: khó sử dụng, khó bảo quản , dễ viêm nhiễm, tốn kém..

1.3. Kính tiếp xúc cứng chỉnh hình giác mạc sử dụng ban đêm:

* Khái niệm: Có nhiều cách gọi tên kỹ thuật chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc cứng đeo ban đêm như: Ortho-K (Orthokeratology), chỉnh thị ban đêm, CRT (Corneal Refractive Therapy)…. Những từ này đều mô tả cùng một phương thức y học trị liệu chỉnh thị bằng kính tiếp xúc đeo ban đêm khi ngủ để làm giảm độ cận thị. Đã được hiệp hội Thuốc và Thực Phẩm Hoa Kỳ FDA công nhận từ 2002 và được áp dụng rộng rãi tại Mỹ cũng như nhiều nước trên thế giới.

          – Chỉ định:

          + Trẻ em đang tăng độ cận trong quá trình phát triển

+ Những thanh thiếu niên bị cận thị nhưng chưa đến tuổi phẫu thuật

+ Những người lớn bị cận thị nhưng không đủ chỉ định phẫu thuật hoặc không muốn phẫu thuật

+ Những người gặp khó khăn khi mang kính gọng hoặc kính tiếp xúc thông thường ban ngày.

– Cơ chế tác động: kính được thiết kế để điều chỉnh nhẹ nhàng bề mặt giác mạc trong lúc ngủ. Kính được lấy ra vào buổi sáng khi thức dậy. Những thay đổi tinh tế độ cong của bề mặt giác mạc giúp cho thị lực trở nên rõ ràng suốt ngày hôm sau mà không cần sử dụng kính gọng hay kính áp tròng.

– Ưu điểm:

+ Giúp người cận thị có nhìn rõ mà không lệ thuộc vào kính gọng cũng như kính tiếp xúc trong khi sinh hoạt, làm việc, học tập ban ngày

+ Giúp ngăn chặn sự tăng độ ở trẻ em cũng nhưng độ tuổi thanh thiếu niên

2. Can thiệp phẫu thuật:

2.1.PRK

* Khái niệm: PRK là phẫu thuật khúc xạ Laser Excimer đầu tiên. Seiler đã thực hiện ca phẫu thuật PRK đầu tiên vào năm 1985 trên mắt bệnh nhân bị mù. Đến năm 1988 Mc Donald thực hiện những ca phẫu thuật PRK đầu tiên trên mắt người bị tật khúc xạ. Từ năm 1995, sau khi được FDA chấp thuận, PRK trở thành 1 phương pháp phổ biến để điều chỉnh tật khúc xạ. Người ta dùng cồn pha loãng áp lên bề mặt giác mạc sau đó biểu mô bị phá hủy bằng phương pháp cạo cơ học.

* Hạn chế: đau, kích thích, cộm xốn trong 2 ngày đầu sau mổ, sẹo mờ giác mạc, chậm phục hồi thị lực.

2.2. LASIK

* Khái niệm: năm 1989, Lucio Buratto tiến hành nghiên cứu kỹ thuật điều chỉnh tật khúc xạ bằng Laser Excimer bằng cách dùng dao tạo vạt (microkeratome) tạo ra một vạt giác mạc đứt rời. Thời gian đầu, ông dùng tia laser tác động lên phần nhu mô của vạt cắt. Về sau ông thực hiện trên bề mặt của phần nhu mô dưới vạt. Năm 1990, Pallikaris thực hiện thành công phẫu thuật Lasik với bản lề vạt giác mạc phía mũi và laser tác động vào phần nhu mô bên dưới vạt. Tháng 6/1991, Blint và Slade thực hiện những ca phẫu thuật Lasik đầu tiên sử dụng dao tạo vạt giác mạc như hiện nay đang dùng. Từ đó đến nay có rất nhiều cải tiến về kỹ thuật lẫn trang thiết bị, dao tạo vạt để ngày càng nâng cao độ an toàn và chất lượng thị giác cho bệnh nhân sau phẫu thuật.

Phẫu thuật LASIK gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: tạo vạt giác mạc bằng dao vi phẫu tự động, sau đó vạt giác mạc này được lật lên, bộc lộ phần nhu mô giác mạc bên dưới.

Giai đoạn 2: người ta dùng laser excimer để bào mòn phần nhu mô giác mạc, nhằm chỉnh sửa lại hình dạng giác mạc, điều chỉnh tật khúc xạ.

– Ưu điểm: Phẫu thuật không xâm lấn nên độ an toàn cao, thời gian phẫu thuật nhanh, có thể trở lại làm việc, sinh hoạt ngay ngày hôm sau, không đau.

– Hạn chế: có thể có tai biến do tạo vạt gây ra, những trường hợp độ cao , giác mạc mỏng không điều trị hết độ .

2.3. LASEK

LASEK: Là cải tiến giữa PRK và LASIK. Năm 2000, Camellin (Ý) giả thuyết rằng nhu mô phơi trần sau phẫu thuật là nguyên nhân gây ra các đặc điểm bất lợi của PRK. Phương pháp này cũng dùng cồn pha loãng làm lõng lẽo lớp biểu mô giác mạc, sau đó tách nguyên vẹn khỏi màng Bowman thay vì phá bỏ. Lớp biểu mô được giữ và phủ trở lại bề mặt nhu mô sau khi chiếu laser. Sau 3 đến 5 ngày, biểu mô mới tái tạo bên dưới, lớp biểu mô cũ với các tế bào đã chết ở bên trên bị đào thải. Ưu điểm của LASEK là dùng vạt biểu mô như một lớp băng sinh học để hạn chế các nhược điểm của PRK mà không cần tạo vạt thực sự như Lasik nên hạn chế được các biến chứng do tạo vạt gây ra. LASEK có thời gian phẫu thuật lâu hơn PRK, do lớp vạt biểu mô rất mỏng khoảng 50-60µm, nên cần kỹ thuật thật tỉ mỉ, tinh tế và đòi hỏi sự khéo léo.

2.4. FEMTOSECOND LASIK:

Khái niệm: đây là một bước tiến lớn của phẫu thuật khúc xạ. Thay vì sử dụng microkeratome (dao cắt vạt cơ học tự động), thì người ta dùng laser tần số cao, laser Femtosecond để tạo vạt giác mạc, Vạt giác mạc được lật lên, và sau đó dùng laser excimer để bào mòn giác mạc điều chỉnh tật khúc xạ.

– Ưu điểm: Độ an toàn cao do hạn chế những biến chứng có thể xảy ra do dao tạo vạt. Có thể cắt được vạt mỏng hơn nên có thể điều trị được độ cao hơn.

2.6. SMILE:

* Kỹ thuật mổ mắt cận thị ReLEx smile khác biệt hoàn toàn so với Femto Lasik và Lasik truyền thống, qua đó toàn bộ phẫu thuật được thực hiện bằng Femtosecond Laser chỉ với một bước duy nhất, hoàn toàn không tạo vạt giác mạc. Mảnh nhu mô giác mạc được cắt siêu mịn bằng Femtosecond Laser sẽ được phẫu tách qua một đường mở nhỏ 2 – 4mm ở chu biên giác mạc thay vì làm bay hơi lớp nhu mô này bằng Excimer Laser theo phương pháp cũ.

Bác Sĩ CK II Nguyễn Thị Mai,

Trưởng khoa Mắt và phẫu thuật khúc xạ bệnh viện FV

Hotline: 0986.300.900

Air Conditioning Heating Balcony Dishwasher Pool Internet Terrace Microwave Fridge Cable TV Security Camera Toaster Grill Oven Fans Servants Furnished Cupboards
Property ID: rs-1961

Agent